Uống kháng sinh trị mụn có ảnh hưởng gì không?

Được đăng bởi Doctor Acnes vào ngày 21/05/2024

Thuốc kháng sinh thường được Bác sĩ Da liễu kê toa để điều trị các trường hợp mụn trứng cá từ trung bình đến nặng. Chúng hoạt động bằng cách nhắm vào mục tiêu và làm giảm số lượng Cutibacterium acnes (C. acnes) – loại vi khuẩn thường liên quan đến mụn trứng cá. Thuốc kháng sinh có thể hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng mụn trứng cá, giảm viêm và ngăn ngừa sự hình thành các tổn thương mụn mới. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh để điều trị mụn trứng cá đặt ra những câu hỏi liên quan đến tác dụng phụ tiềm ẩn của chúng. Vậy uống kháng sinh trị mụn có ảnh hưởng gì không? Hãy cùng Doctor Acnes tìm hiểu về các tác động của kháng sinh, đặc biệt là kháng sinh đường uống và những điều cần cân nhắc qua bài viết dưới đây nhé.

Kháng sinh trị mụn như thế nào?

Cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá do nhiều yếu tố, bao gồm tăng sừng hóa nang lông, tăng sản xuất bã nhờn, hormone, sự xâm nhập của vi khuẩn C. acnes

C. acnes là một loại vi khuẩn gram dương kỵ khí, đóng vai trò quan trọng trong quá trình viêm bằng cách tiết ra lipase, protease, hyaluronidases và các yếu tố hóa học. Bình thường C. acnes cư trú ở da một cách vô hại. Khi các lỗ nang lông bị ứ lại, các chất bã và tế bào chết sẽ tạo nên môi trường kỵ khí nên C. acnes có thể phát triển, gây viêm và gây mụn.

Kháng sinh được sử dụng với hai tác dụng chính trong mụn trứng cá:

  • Ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn C. acnes trên bề mặt da và trong nang lông.
  • Làm giảm sản xuất các chất trung gian gây viêm.

Các đường dùng và liều lượng kháng sinh trị mụn

Thuốc kháng sinh tại chỗ và toàn thân thường được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá.

Kháng sinh tại chỗ: so với kháng sinh đường uống, kháng sinh bôi tại chỗ có ưu điểm là ít gây độc tính và tác dụng phụ toàn thân hơn.

Kháng sinh toàn thân: thuốc kháng sinh đường uống là một liệu pháp quan trọng cho mụn trứng cá không đáp ứng với điều trị tại chỗ và tình trạng mụn viêm nhiều hơn, bao gồm mụn mủ, tổn thương dạng nốt và áp xe. Chúng đặc biệt hữu ích cho mụn trứng cá ở lưng vì khó áp dụng các phương pháp điều trị tại chỗ trên những vùng da rộng và khó tiếp cận. Những tác nhân này được sử dụng một cách có hệ thống sẽ làm giảm đáng kể số lượng C. acnes.

  • Tetracycline (doxycycline, minocycline, sarecycline) được ưa chuộng vì hiệu quả cao hơn và khả năng dung nạp tốt hơn.
  • Azithromycin và erythromycin là những macrolide thường được sử dụng nhất khi chống chỉ định tetracycline.
  • Điều trị bằng cephalexin và trimethoprim-sulfamethoxazole không được khuyến khích vì dữ liệu chứng minh hiệu quả của chúng còn hạn chế, trừ khi có chống chỉ định với tetracycline và macrolide.
Kháng sinh, liều lượng Ghi chú
Tetracycline 250–500 mg hai lần mỗi ngày Chống chỉ định ở phụ nữ mang thai hoặc trẻ em dưới 9 tuổi.

Bị chelat hóa bởi thuốc kháng acid và sữa; uống khi bụng đói.

Doxycycline 100–200 mg mỗi ngày Có thể dùng cùng với thức ăn.

Được chấp nhận sử dụng ở bệnh nhân suy thận.

Chống chỉ định ở phụ nữ mang thai hoặc trẻ em dưới 9 tuổi.

Tác dụng phụ bao gồm khó chịu ở đường tiêu hóa; độc tính quang học (lớn nhất trong tất cả các tetracycline).

Minocycline 50–200 mg mỗi ngày Có thể dùng cùng với thức ăn.

Chống chỉ định ở phụ nữ mang thai hoặc trẻ em dưới 9 tuổi.

Tác dụng phụ bao gồm chóng mặt, thay đổi sắc tố, viêm gan, phản ứng giống lupus.

Azithromycin 500 mg một đến ba lần mỗi tuần Không dùng cùng thức ăn.

An toàn cho phụ nữ đang cho con bú và phụ nữ mang thai.

Tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như buồn nôn, tiêu chảy và đau bụng.

Erythromycin 500 mg x 2 lần/ngày An toàn với phụ nữ mang thai và trẻ em.

Tác dụng phụ có thể gây rối loạn tiêu hóa.

42% bệnh nhân có thể kháng lại C. acnes.

Cephalexin (500 mg hai lần/ngày cho người lớn) và trimethoprim-sulfamethoxazole (160/800 mg một đến hai lần một ngày cho người lớn) Hữu ích ở những bệnh nhân kháng các loại kháng sinh khác.

Phản ứng bất lợi như 3%–4% bệnh nhân bị phát ban; 21 nguy cơ phản ứng da nghiêm trọng, chẳng hạn như hội chứng Stevens–Johnson.

Không có dữ liệu nào xác định được sản phẩm nào vượt trội hơn. Sự lựa chọn của người kê đơn có thể tùy thuộc vào sở thích cá nhân hoặc đặc điểm của từng bệnh nhân, chẳng hạn như dạng thuốc (viên nang hay viên nén), độ nhạy cảm của đường tiêu hóa, nhạy cảm ánh sáng, tiền sử dùng thuốc kháng sinh của bệnh nhân cũng như kinh nghiệm sử dụng kháng sinh của Bác sĩ trên từng đối tượng bệnh nhân và tình trạng bệnh khác nhau.

Uống kháng sinh trị mụn có ảnh hưởng gì không
Một số loại kháng sinh tại chỗ và toàn thân thường được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá

Khi nào cần dùng kháng sinh trị mụn đường uống?

Kháng sinh bôi tại chỗ được sử dụng để điều trị mụn trứng cá nhẹ, đặc trưng bởi các mụn trứng cá đóng và mở với ít tổn thương viêm.

Kháng sinh đường uống được chỉ định để điều trị mụn trứng cá viêm từ trung bình đến nặng. Trong những trường hợp mụn viêm ít nghiêm trọng hơn, thuốc kháng sinh đường uống có thể được xem xét khi điều trị tại chỗ không thành công. Thuốc kháng sinh đường uống cũng có thể được sử dụng cho mụn trứng cá cơ thể, khi việc áp dụng liệu pháp bôi lên một diện tích bề mặt lớn gặp khó khăn.

Tuy nhiên, kháng sinh đường uống hiếm khi được kê đơn đơn trị liệu. Sinh lý bệnh đa yếu tố của mụn đòi hỏi phải sử dụng nhiều tác nhân để tấn công từ nhiều hướng. Sự kết hợp giữa kháng sinh đường uống với benzoyl peroxide, và retinoid đường bôi là tiêu chuẩn điều trị. Ngoài ra, đơn trị liệu bằng kháng sinh đường uống không được khuyến khích do khả năng phát triển tình trạng đề kháng kháng sinh.

ca lâm sàng điều trị mụn thành công tại DA
Ca lâm sàng điều trị mụn thành công tại Doctor Acnes

>>> Xem thêm: Vai trò của kháng sinh dùng ngoài và đường uống trong điều trị mụn

Uống kháng sinh trị mụn có ảnh hưởng gì không và dùng trong bao lâu?

Thuốc kháng sinh đường uống chỉ nên được sử dụng như liệu pháp kích thích và được kê đơn trong thời gian giới hạn. Thời gian điều trị liên tục tối đa không được vượt quá 3–4 tháng vì không có lợi ích bổ sung nào được chứng minh sau thời gian này. Các hướng dẫn gần đây của Học viện Da liễu Hoa Kỳ khuyến nghị nên hạn chế thời gian điều trị bằng kháng sinh đường uống xuống dưới 3 tháng. Đồng thời, người bệnh nên đánh giá đáp ứng lâm sàng sau 6–12 tuần và ngừng điều trị nếu không thấy cải thiện đáng kể.

Hội Da liễu Hoa Kỳ (AAD) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý kháng sinh, nghĩa là sử dụng đúng liều lượng kháng sinh trong khoảng thời gian phù hợp để giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh. Sử dụng kháng sinh đường uống để điều trị mụn trứng cá trong thời gian dài không chỉ dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh ở mức đáng lo ngại mà còn có thể có tác động tiêu cực đáng kể đến da và hệ vi sinh vật đường tiêu hóa, dẫn đến mất cân bằng vi sinh vật đường ruột.

Kết quả của tình trạng đề kháng kháng sinh bao gồm thất bại trong điều trị mụn trứng cá hoặc tái phát nhanh, gây ra những thay đổi trong hệ vi khuẩn bình thường của toàn bộ cơ thể và tạo cơ sở cho sự phát triển của mầm bệnh cơ hội.

Đồng thời việc sử dụng kháng sinh đường uống lâu dài còn làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ:

  • Buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy gặp ở 7% bệnh nhân dùng tetracycline, 4% dùng macrolide và 2% dùng clindamycin.
  • Tetracycline cũng gây chóng mặt, nhức đầu và nhạy cảm với ánh sáng ở 2% bệnh nhân. Ngoài ra, tetracycline có liên quan đến các phản ứng quá mẫn hiếm gặp (viêm phổi, viêm thận tăng bạch cầu ái toan, bệnh huyết thanh) và tăng huyết áp nội sọ.
  • Minocycline có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống, viêm gan tự miễn và viêm đa động mạch nút, thường sau 1 năm sử dụng.
  • Macrolide có liên quan đến các bất thường dẫn truyền tim và hiếm khi gây nhiễm độc gan.
  • Clindamycin có liên quan đến viêm đại tràng màng giả.
thăm khám bác sĩ
Thăm khám Bác sĩ Da liễu để được điều trị mụn một cách an toàn và hiệu quả

Những khuyến cáo trong sử dụng kháng sinh để điều trị mụn

Nhằm cải thiện kết quả điều trị mụn trứng cá, Liên minh Toàn cầu trong cải thiện kết quả điều trị mụn trứng cá đã công bố các khuyến nghị về quản lý mụn trứng cá như một phần bổ sung cho Tạp chí của Học viện Da liễu Hoa Kỳ (JAAD) năm 2003 với 9 điểm dễ thực hiện để hạn chế tình trạng đề kháng kháng sinh:

  • Kết hợp retinoid tại chỗ và kháng sinh như liệu pháp đầu tay.
  • Không nên sử dụng kháng sinh đơn trị liệu.
  • Tránh kết hợp đồng thời kháng sinh đường uống và bôi tại chỗ.
  • Nên sử dụng đồng thời với các sản phẩm có chứa benzoyl peroxide.
  • Nên sử dụng kháng sinh trong thời gian ngắn và ngừng sử dụng khi không cải thiện thêm hoặc cải thiện không đáng kể. Kháng sinh đường uống lý tưởng nhất nên được sử dụng trong 3 tháng.
  • Không chuyển thuốc kháng sinh khi không có lý do chính đáng.
  • Tránh dùng kháng sinh như liệu pháp duy trì.
  • Sử dụng retinoid tại chỗ để điều trị duy trì, có thể bổ sung benzoyl peroxide khi cần thiết.

Thuốc kháng sinh đường uống đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị mụn trứng cá, chúng làm giảm vi khuẩn gây mụn và giảm viêm, giúp cải thiện các triệu chứng. Tuy nhiên, sử dụng kéo dài có thể góp phần gây đề kháng kháng sinh và phá vỡ sự cân bằng vi khuẩn của cơ thể. Điều quan trọng là phải tham khảo ý kiến của Bác sĩ Da liễu, người có thể đánh giá tình trạng cụ thể, đánh giá mức độ nghiêm trọng của mụn trứng cá và đề xuất các lựa chọn điều trị thích hợp nhất. Họ có thể giúp cân nhắc lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của việc sử dụng kháng sinh đường uống trên từng bệnh nhân và cung cấp hướng dẫn để quản lý mụn trứng cá tối ưu.

banner gruop facebook

Tài liệu tham khảo

  1. H.R. Jalian, S. Takahashi, J. Kim, 7.32 – Overview of Dermatological Diseases, Editor(s): John B. Taylor, David J. Triggle, Comprehensive Medicinal Chemistry II, Elsevier, 2007, Pages 935-955, ISBN 9780080450445, https://doi.org/10.1016/B0-08-045044-X/00235-2
  2. Leung, Alexander Kc et al. “Dermatology: how to manage acne vulgaris”. Drugs in context vol. 10 2021-8-6. 11 Oct. 2021, doi:10.7573/dic.2021-8-6
  3. Kraft J, Freiman A. “Management of acne“. CMAJ. 2011 Apr 19;183(7):E430-5. doi: 10.1503/cmaj.090374. Epub 2011 Feb 28. PMID: 21398228; PMCID: PMC3080563
  4. Baldwin H. “Oral Antibiotic Treatment Options for Acne Vulgaris“. J Clin Aesthet Dermatol. 2020 Sep;13(9):26-32. Epub 2020 Sep 1. PMID: 33133338; PMCID: PMC7577330
  5. Williams H, Dellavalle R, Garner S.”Acne vulgaris“. Lancet 2012: 379 (9813): 361–372
  6. Farrah, G., & Tan, E. (2016). “The use of oral antibiotics in treating acne vulgaris: a new approach“. Dermatologic Therapy, 29(5), 377–384. doi:10.1111/dth.12370
  7. Thiboutot D, Gollnick H, Bettoli V, Dréno B, Kang S, Leyden JJ, Shalita AR, Lozada VT, Berson D, Finlay A, Goh CL, Herane MI, Kaminsky A, Kubba R, Layton A, Miyachi Y, Perez M, Martin JP, Ramos-E-Silva M, See JA, Shear N, Wolf J Jr; Global Alliance to Improve Outcomes in Acne. “New insights into the management of acne: an update from the Global Alliance to Improve Outcomes in Acne group“. J Am Acad Dermatol. 2009 May;60(5 Suppl):S1-50. doi: 10.1016/j.jaad.2009.01.019. PMID: 19376456
Share DMCA.com Protection Status

PHẢN HỒI

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

+84